Làm thế nào Việt Nam có thể thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình?

Đăng bởi Timviectop | 216 lượt xem

Bẫy thu nhập trung bình là một tình trạng trong phát triển kinh tế khi mà một quốc gia đạt đến một mức thu nhập bình quân nhất định (do những lợi thế sẵn có) và giậm chân tại mức thu nhập ấy mà không thể vượt qua ngưỡng đó để trở nên giàu có hơn.

Việt Nam là một trong những câu chuyện thành công kinh tế lớn của thế kỷ 21 cho đến nay. Chỉ một thế hệ trước, đất nước này là một trong những nước nghèo nhất thế giới, bị tổn thương bởi hàng thập kỷ xung đột và với một nền kinh tế bị kìm hãm bởi một hệ thống kế hoạch trung tâm.

Sau ba thập kỷ tăng trưởng nhanh chóng hầu như không bị gián đoạn, Việt Nam đã nổi lên như một nền kinh tế có thu nhập trung bình phát triển mạnh. Các nhà đầu tư nước ngoài đang cạnh tranh để có cơ hội vào cách cửa đó, yêu cầu tham gia và đóng góp cho sự thịnh vượng ngày càng tăng của Việt Nam. Tuy nhiên, như có thể thấy từ Hình 1, quá trình chuyển đổi Việt Nam trở thành một nền kinh tế thịnh vượng và hiện đại chỉ mới bắt đầu. Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam hiện chỉ bằng khoảng 40% mức trung bình toàn cầu. Sebastian Eckardt báo cáo trên Brookings.

Làm thế nào Việt Nam có thể thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình

Để trở thành một quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam sẽ cần duy trì tốc độ tăng trưởng trung bình ít nhất 7% trong 25 năm tới. Điều này sẽ mang lại GDP bình quân đầu người khoảng 25.000 đô la. Mặc dù Việt Nam có tiềm năng đáp ứng nguyện vọng này, nhưng không có cải cách, Việt Nam có thể gặp phải sự tăng trưởng chậm lại và thiếu đi khát vọng của chính mình (xem Hình 2). Dân số già hóa nhanh chóng, năng suất ấm áp và tăng trưởng đầu tư chậm chạp đều ảnh hưởng đến tiềm năng tăng trưởng trung hạn của Việt Nam. Nhiều động lực thúc đẩy sự tăng trưởng của đất nước trong quá khứ sẽ giảm dần trong thập kỷ tới. Đạt được từ chuyển đổi cơ cấu Các công nhân của công ty chuyển từ nông nghiệp năng suất thấp sang sản xuất và dịch vụ năng suất cao hơn đang hoạt động. Tiền lương đang tăng và sẽ bắt đầu làm xói mòn lợi thế so sánh hiện tại của Việt Nam trong các phân khúc giá trị tương đối thấp, sử dụng nhiều lao động của các chuỗi giá trị toàn cầu.

Theo Brookings, Việt Nam cũng sẽ cần điều hướng thay đổi mô hình thương mại toàn cầu và các công nghệ đột phá, vừa định hình lại các cơ hội vừa tạo ra rủi ro mới.Khối lượng thương mại thế giới đã tăng chỉ hơn 3% mỗi năm kể từ năm 2012, ít hơn một nửa so với tỷ lệ trung bình trong ba thập kỷ trước. Trong khi đó, việc áp dụng ngày càng nhiều các công nghệ sản xuất tiên tiến Robot, in 3D, sản xuất thông minh vào các nền kinh tế khan hiếm lao động và ở Trung Quốc làm trầm trọng thêm mối lo ngại về khả năng cạnh tranh tiền lương. Ví dụ, công ty may mặc thể thao Adidas có kế hoạch tái sản xuất từ ​​Việt Nam và các trung tâm sản xuất chi phí thấp khác đến một nhà máy in 3D mới tại quốc gia của họ, Đức. Những xu hướng này có thể thách thức khả năng của Việt Nam để tiếp tục mô phỏng sự thành công của các nền kinh tế Hổ châu Á nhưng chúng cũng có thể tạo ra những cơ hội mới để bắt kịp công nghệ nhanh hơn và thậm chí là nhảy vọt. Một số bằng chứng từ những người chấp nhận sớm cho thấy rằng trên thực tế, các công nghệ sản xuất mới có thể thúc đẩy thương mại. Ví dụ, việc sản xuất máy trợ thính đã chuyển gần như hoàn toàn sang in 3D trong thập kỷ qua. Trái với mong đợi thông thường, thực tế điều này liên quan đến việc mở rộng thương mại toàn cầu về máy trợ thính.

Vậy Việt Nam sẽ làm gì để tận dụng những cơ hội mới này mà còn quản lý những nhược điểm?

Đầu tiên, đẩy nhanh đầu tư sản xuất. Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tương đối khan hiếm vốn. Điều này có nghĩa là sẽ đạt được nhiều bằng cách tăng năng suất của lực lượng lao động dồi dào của đất nước với sự đầu tư vào cơ sở hạ tầng sản xuất, máy móc và công nghệ. Điều này sẽ đòi hỏi một hệ thống tài chính hiệu quả hơn, giúp giảm chi phí tài chính và phân bổ Việt Nam tiết kiệm đáng kể trong nước cho khu vực tư nhân sản xuất và đầu tư cơ sở hạ tầng. Nó cũng sẽ yêu cầu gỡ bỏ các nút thắt đối với đầu tư của khu vực tư nhân để giảm rủi ro và tăng lợi nhuận cho các khoản đầu tư này.

Thứ hai, thúc đẩy một lực lượng lao động sản xuất với các kỹ năng thế kỷ 21. Nền kinh tế phát triển nhanh chóng của Việt Nam đòi hỏi một bộ kỹ năng và quy trình sản xuất mới và phức tạp hơn so với trước đây. Theo Chỉ số vốn nhân lực của Ngân hàng Thế giới (HCI) vừa được công bố, xếp hạng Việt Nam 48 trên 157 quốc gia, năng suất trọn đời của một đứa trẻ sinh ra tại Việt Nam ngày nay sẽ chỉ bằng 67% tiềm năng của chúng với giáo dục và y tế đầy đủ. Mặc dù có những thành tựu đáng kể trong việc mở rộng trình độ và chất lượng giáo dục, nhưng chỉ có hai trong ba trẻ em hoàn thành trung học và ít hơn một trong số 10 công nhân hiện tại có bằng đại học hoặc đào tạo nghề. Ngày nay, hơn một nửa các công ty ở Việt Nam báo cáo những khó khăn trong việc tìm kiếm công nhân có kỹ năng liên quan. Việt Nam sẽ cần một nỗ lực cải cách lớn để xây dựng hệ thống đào tạo nghề toàn diện và cạnh tranh và các trường đại học đẳng cấp thế giới không chỉ để đảm bảo khả năng cạnh tranh mà còn cho phép người dân tham gia hiệu quả vào các cơ hội mang lại nền kinh tế phát triển nhanh chóng.

Thứ ba, thúc đẩy đổi mới. Sự đổi mới sẽ cần phải trở thành động lực quan trọng hơn để tăng năng suất, cả thông qua việc nâng cấp các quy trình, công nghệ và sản phẩm của các công ty hiện tại, cũng như sự gia nhập của các công ty năng suất thấp và thoát khỏi các công ty năng suất thấp. Cơ hội rất nhiều cho các công ty ở Việt Nam áp dụng kiến ​​thức và công nghệ hiện có. Bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ, cạnh tranh dễ dàng vào và ra khỏi các công ty, cũng như sự cởi mở trong thương mại và đầu tư là những thành phần quan trọng để kích thích sự đổi mới giữa các công ty. Ví dụ, Việt Nam tăng cường tích hợp vào các chuỗi giá trị toàn cầu có thể đóng vai trò là phương tiện để phổ biến công nghệ và ý tưởng.

Ưu tiên cuối cùng và có lẽ là quan trọng nhất: các tổ chức! Các di sản thể chế,bao gồm khu vực nhà nước vẫn còn lớn, thể chế thị trường chưa hoàn chỉnh và môi trường đầu tư rườm rà tiếp tục cản trở sự phát triển của khu vực tư nhân Việt Nam. Với việc nhà nước vẫn tham gia vào các hoạt động sản xuất và phân bổ nguồn lực, các câu hỏi về một sân chơi bình đẳng, quy định độc lập về thị trường và khuôn khổ cạnh tranh hiệu quả vẫn còn phù hợp. Điều này được kết hợp bởi sự phân mảnh trong và trên các cấp chính quyền, các lỗ hổng thực hiện và trách nhiệm giải trình yếu. Nếu không được giải quyết, những điểm yếu về quản trị này có thể trở thành lực cản cho sự phát triển và kết quả xã hội trong tương lai.

Nguồn: vietnaminsider.com; Wikipedia

Timviectop


Chủ đề

Đăng nhập


Đăng Ký